Tình Yêu Con Trai

Lúc mới yêu thật vui biết bao nhiêu... ngày tháng mới yêu thật vui biết bao nhiêu!!!

Latest topics

Thống Kê

Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không


[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 25 người, vào ngày Sun Mar 27 2016, 16:09


    điều gì khiến người ta thành gay........

    Share

    sensitive_schoolboy
    Thành Viên 2
    Thành Viên 2

    Tổng số bài gửi : 313
    Join date : 14/03/2009
    Age : 28
    Đến từ : THIÊN PHONG NGỌC BĂNG CUNG

    điều gì khiến người ta thành gay........

    Bài gửi by sensitive_schoolboy on Thu Apr 23 2009, 22:46

    Cuộc tranh cãi vẫn đương là, hoặc tất cả do sự dạy dỗ/giáo dục con cái, hoặc tất cả do gen. Nhưng biết đâu còn có lý do nào khác nữa?





    Với đôi mắt xanh trong, tóc gợn sóng, nét mặt tươi tắn, bọn trẻ trông như vừa mới bước ra từ cuốn catalog của Pottery Barn. Chúng là cặp song sinh 7 tuổi. Tôi gọi chúng là Thomas và Patrick. Ba mẹ bọn trẻ cho phép tôi được gặp chúng, miễn là tôi không sử dụng tên thật của các em.



    Minh họa: Chris Buzelli

    5 giây lướt qua, chẳng thể nghi ngờ gì về sự giống nhau của hai đứa trẻ -đến nỗi chúng cũng không thể chỉ ra được ai là ai trong những tấm hình.
    5 phút trôi qua, sự khác nhau về chiều sâu của hai đứa trẻ mới dần hiện ra.

    Pattrick dễ gần, chín chắn và chăm chú. Cậu hay lặp lại tên mình khi nói chuyện với tôi. Thomas tự nhiên, thoải mái và hơi lo ra. Mới có mấy phút sau khi gặp tôi bên ngoài một tiệm cà phê, cậu đã thúc mạnh vào tôi và reo lên “Chiếc punch bug(1) xám kìa!” và rồi dõi theo chiếc Volkswagen Beetle đang kiếm khách đi ngang qua chúng tôi.
    Chúng cõng nhau đi quanh như những người anh em khác. Nhưng ở Pattrick ít có sự mạnh mẽ hơn và giọng cậu cao hơn. Thomas cõng người anh em của mình, đôi cánh tay cậu vòng lại trông như một lực sĩ tí hon. Chúng là hai cậu bé 7 tuổi với những khác biệt tinh tế.

    Hồi cặp sinh đôi được 2 tuổi, Patrick tìm thấy giày của mẹ. Cậu thích mang chúng. Thomas có lần thử mang giày bố nhưng nó không hiểu gì.

    Khi cặp sinh đôi được 3 tuổi, Thomas buột miệng nói rằng súng đồ chơi là món đồ yêu thích của cậu. Còn Patrick thì nói, món đồ chơi cậu thích là mấy con búp bê Barbie mà cậu tìm thấy ở vườn trẻ.

    Khi cặp sinh đôi được 5 tuổi, Thomas “loan báo” rằng cậu sẽ là gã Monster trong lễ Halloween. Pattrick nói cậu sẽ là công chúa. Thomas bảo Patrick không làm vậy được đâu, vì mấy đứa khác sẽ cười vào mặt nó. Patrick dường như lúng túng, nó không hiểu. Thế Patrick làm Batman vậy –cậu nói.

    Người mẹ thông minh, nồng hậu và cởi mở (open-minded) của hai cậu nhóc thấy chính mình cũng đang mâu thuẫn. Cô muốn Patrick –đứa con trai mà những người bạn chơi cùng nó toàn là nữ, chẳng bao giờ là nam –được là chính mình, nhưng cô cũng lo cho cách xử sự nữ tính của con sẽ đẩy cậu vào tình huống bị nhạo báng và tổn thương. Cô quyết định cho phép con mình được tự do thể hiện ở nhà và đặt ra một số hạn định cho con nơi công cộng.

    Mọi chuyện vẫn tiếp diễn cho đến năm ngoái, khi một giáo viên ở trường đã gọi điện bảo rằng Patrick đang khiến cho những người bạn cùng lớp của cậu thấy không thoải mái. Cậu cứ khăng khăng đòi mình là con gái.

    Patrick biểu lộ ra những hành vi gọi là bất tuân với giới tính thơ ấu (childhood gender nonconformity = CGN). CGN không dùng để diễn tả một cậu bé mà đâu đó trong đám đồ chơi của nó có một con búp bê hay có lần nào đó, cậu đã từng thử vận vào bộ đồ diễn Bạch Tuyết của người chị gái.
    Đúng hơn, nó dùng để diễn tả cậu bé có biểu hiện rõ rệt và cố định những đặc điểm sở thích tiêu biểu của nữ tính, đồng thời, né tránh những hành vi đặc thù của nam tính, như là các trò chơi xô xát thô bạo.
    Đã có những nghiên cứu đáng kể về hiện tượng này, đặc biệt là ở nam giới, gồm cả cuộc nghiên cứu dõi theo những cậu bé từ lúc thơ ấu cho đến đầu tuổi trưởng thành. Các dữ kiện cho thấy Patrick rất có khả năng khi trưởng thành sẽ là người đồng tính. Không phải tất cả đàn ông đồng tính đều thể hiện những hành vi quá nữ tính như thế khi còn là những cậu nhóc. Nhưng cuộc nghiên cứu cho thấy, các cậu bé có biểu hiện CGN, khoảng 75% trong số chúng –có thể hơn –sẽ là gay hoặc bi.





    Điều khiến cho trường hợp của Patrick và Thomas lôi cuốn chúng ta là, nó đặt ra một nghi vấn cho cả hai giả thiết nổi nhất vào lúc này, trong những cuộc tranh luận dài hơi về đề tài điều gì khiến cho người ta thành gay: tạo hóa/bản chất tự nhiên hay là do nuôi dưỡng/khuyến khích, do gen hay do học đòi.

    Là cặp sinh đôi đồng trứng, Patrick và Thomas khởi đầu như những dòng vô tính về di truyền (genetic clones(2)). Kể từ khi chúng mở mắt chào đời, môi trường sống, những thay đổi, các mối quan hệ đều như nhau, dưới sự nuôi dưỡng của cùng một cha mẹ, rồi cho đến khi mấy đứa trẻ biết nói, đứa thì bộc lộ những đặc điểm nữ tính rất đậm, đứa lại tỏ ra “đàn ông” hết thảy, cũng như các bà mẹ vẫn hay đứng nhìn con mình nô đùa mà nhún vai bảo nhau: mấy thằng nhóc nhà tôi khác nhau từ thời khắc chúng sinh ra cơ, không thể nghi ngờ gì về điều ấy đâu.

    Vậy điều gì đã diễn ra từ điểm khởi phát là gen đồng nhất cho đến khi mấy đứa trẻ chào đời? Chúng đã trải qua 9 tháng trong dạ con. Trong cuộc chạy đua tìm kiếm vì những lẽ gì mà người ta thành gay/straight, đây chính là “vùng đất hứa” thú vị và giàu tiềm năng nhất.

    Sao phải quan tâm đồng tính bắt nguồn từ đâu?
    Chứng mình rằng con người ta sinh ra đã là gay sẽ mang đến cho họ sự công nhận rộng lớn hơn từ phía xã hội, đồng thời, bảo vệ họ tốt hơn trước những phân biệt đối xử và những tranh cãi về quyền lợi của người đồng tính. Trong thập niên trở lại đây, khi mà những luận cứ về sinh học đang thắng thế, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy ở người Mĩ, đặc biệt là những người trưởng thành trẻ tuổi, đang mở rộng lòng khoan dung với các gay và les. Và nó đích xác là cái mà những nhóm chống đối đồng tính vô cùng lo lắng. Hội Ðồng Nghiên Cứu Gia Ðình (Family Research Council), một nhóm cố vấn theo đạo Cơ-đốc bảo thủ ở Washington, D.C., lý lẽ trong cuốn Getting It Straight: phát hiện con người ta sinh ra đã là gay “sẽ thúc đẩy cho quan niệm rằng thiên hướng tính dục là một đặc trưng bẩm sinh, như chủng tộc; rằng những người đồng tính luyến ái, như những người Mĩ gốc Phi, phải được bảo vệ hợp pháp trước ‘sự phân biệt đối xử’; và rằng sự chống đối đồng tính phải bị xã hội lên án như cái chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, đó không phải sự thật.”.

    Một số người chủ trương hôn nhân đồng tính biện luận rằng, chứng minh xu hướng tính dục là bẩm sinh sẽ tạo thuận lợi cho việc dàn xếp cuộc tranh luận trở nên giản đơn như một vấn đề về các quyền công dân. Điều này có thể thật, song, khi ấy, lại một lần nữa, tự do tín ngưỡng sẽ có được sự bảo hộ lâu dài của liên bang trước các đặc điểm bẩm sinh như chủng tộc hay giới tính.

    Một thời gian dài ở thế kỷ 20, ý kiến nổi trội cho rằng đồng tính liên thông với quá trình dạy dỗ/giáo dục. Freud là một ví dụ, ông tự biện rằng những người mẹ “úm” con quá mức và những người cha xa cách, thiếu gần gũi/thân mật với con trai đã tạo điều kiện cho các cậu bé thành gay. Mãi cho đến năm 1973, Hội Tâm thần học Mĩ mới gỡ bỏ “đồng tính luyến ái” ra khỏi danh sách các rối loạn về tinh thần.

    Sau đó, vào năm 1991, một nhà thần kinh học ở San Diego tên là Simon LeVay phát biểu với mọi người rằng ông đã tìm ra sự khác biệt mấu chốt giữa các bộ não của đàn ông đồng tính và dị tính mà ông nghiên cứu. LeVay đã chỉ ra một lùm nhỏ các tế bào thần kinh của phần hypothalamus phía trước (anterior hypothalamus(3)) –được tin rằng là nơi điều khiển hành vi tính dục, về trung bình, ở đàn ông đồng tính có kích cỡ nhỏ hơn hai lần ở đàn ông dị tính. Phát hiện của LeVay không lên tiếng trực tiếp cho cuộc tranh cãi: Tự nhiên hay do Nuôi dưỡng. Về lý thuyết mà nói, các khối thần kinh có thể đã thay đổi kích cỡ bởi do trạng thái đồng tính.
    Nhưng dường như không phải như thế, và cuộc nghiên cứu cũng làm xìu đi những nỗ lực nhằm chứng minh đồng tính luyến ái trên cơ sở sinh học.

    Về sau, cũng trong năm đó, chuyên gia tâm thần học Richard Pillard, đại học Boston, và nhà tâm lý học J. Michael Bailey, đại học Northwestern, đã thông báo các kết quả từ cuộc nghiên cứu của họ về các cặp nam sinh đôi. Họ phát hiện ra rằng, ở các cặp sinh đôi cùng trứng, nếu người này là gay, thì có khoảng 50% khả năng người còn lại cũng là gay. Với những cặp sinh đôi khác trứng, khả năng này khoảng 20%. Bởi các cặp sinh cùng trứng có cùng một bộ gen, còn các cặp khác trứng thì giống nhau khoảng nửa bộ. Người ta tin rằng các gen đã tạo ra sự khác biệt. Hầu hết các nghiên cứu đáng tin cậy phát hiện thấy tỉ lệ đồng tính chiếm 2 đến 4% dân số, thay cho con số ước lượng phổ biến “1 trong 10”.

    Năm 1993 nổ ra một tin quan trọng: khám phá của Dean Hamer về “gen gay”. Thật ra, Hamer, một nhà nghiên cứu lành nghề thuộc đại học Harvard tại Viện National Cancer, không hẳn đã hoàn toàn liều lĩnh và thiếu chính xác khi nói ra điều đó. Ông phát hiện thấy những người anh em đồng tính cùng có một vùng nhiễm sắc thế X đặc trưng, gọi là Xq28, tỉ lệ này cao hơn ở những người đồng tính nam nhưng có anh/em là người dị tính. Hamer và những người khác đề xuất khám phá này rốt cuộc sẽ làm thay đổi cách hiểu của chúng ta về thiên hướng tính dục.


    ...(còn tiếp)...

    ----------
    (1)Punch bug: một trò mà trẻ con hay chơi trên những chuyến xe đường xa. Người nào thấy chiếc punch bug (Volkswagen Beetle) đầu tiên sẽ la lên “PUNCH BUG” và thụi vào ai đó bằng tay.

    (2)Thế hệ con mà nhìn chung giống hệt như bố mẹ được gọi là dòng vô tính (clone)

    (3)hypothalamus: vùng dưới đồi
    __________________


    Được sửa bởi sensitive_schoolboy ngày Thu Apr 23 2009, 22:49; sửa lần 1.

    sensitive_schoolboy
    Thành Viên 2
    Thành Viên 2

    Tổng số bài gửi : 313
    Join date : 14/03/2009
    Age : 28
    Đến từ : THIÊN PHONG NGỌC BĂNG CUNG

    Re: điều gì khiến người ta thành gay........

    Bài gửi by sensitive_schoolboy on Thu Apr 23 2009, 22:48

    Hamer và những người khác ám chỉ khám phá về gen gay rốt cuộc sẽ làm thay đổi cách hiểu của chúng ta về thiên hướng tính dục.




    Điều đó vẫn chưa diễn ra.
    Nhưng sự tập trung trọn vẹn cho những nghiên cứu về thiên hướng tính dục đã thế chỗ cho các nguyên nhân sinh học, và không còn nhiều nữa các nghiên cứu khoa học ra đời ủng hộ những lý thuyết trước đây –ràng buộc đồng tính với sự giáo dục/nuôi dưỡng. Freud có lẽ đã thấy tác động thay vì là căn nguyên của vấn đề, bởi một ông bố khi giáp mặt với đứa con trai rất nữ tính của mình mà có lẽ đã trở nên xa cách hoặc căm ghét hơn, dẫn đến việc mẹ của đứa trẻ trở nên bảo bọc con hơn. Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu, những người ngờ rằng đồng tính là do bẩm sinh –là do di truyền hay các sự kiện diễn ra trong dạ con –vẫn đang tìm kiếm manh mối từ khắp nơi: các kích thích tố trước khi sinh. Thứ tự sinh nở. Độ dài ngón tay. Dấu vân tay. Tâm trạng căng thẳng (stress). Mồ hôi. Những cái chớp mắt. Những tương quan không gian. Tầm nghe. Khuynh hướng chỉ dùng một tay. Kể cả cừu “đồng tính”.

    LeVay, là người đồng tính, nói rằng khi ông xuất bản nghiên cứu của mình cách đây 14 năm, một số gay và les đã chỉ trích ông vì đã thực hiện cuộc nghiên cứu mà có thể sẽ dẫn đồng tính luyến ái, một lần nữa bị gộp vào cùng với các tật bệnh và rối loạn. “Điều trái ngược đã xảy ra, nếu có thể nói được như vậy” -LeVay nói, ông giờ đã 61 tuổi (2005) và không còn làm việc trong phòng thí nghiệm nữa. Ông bảo các cuộc tìm kiếm cơ sở sinh học của hiện tượng đồng tính, bao gồm trong đó nhiều nhà nghiên cứu mà bản thân họ là gay/les “đang tiếp tục góp thêm địa vị cho người đồng tính trong xã hội”.
    Các nghiên cứu này nhỏ bé thiếu kinh phí, và các kết quả thường khiêm tốn. Dù vậy, do tính đa dạng của những nghiên cứu kiểu như thế, “tất cả đều cùng nhắm về một hướng, tạo nên cái nhìn khá rõ: các tiến trình sinh học có tác động đáng kể đến thiên hướng tính dục”, LeVay nói. “Song, cũng phiền cái là nó vẫn còn lờ mờ, chưa có gì thật sự trong rõ như pha lê mà bạn muốn”.




    Dù vậy, chỉ vài tháng trước, những dấu vết lờ mờ ấy đã rõ ràng thêm.

    Tháng Năm, các nhà nghiên cứu Thụy Điển báo cáo đã tìm thấy sự khác nhau trọng yếu trong việc bộ não của đàn ông dị tính và đồng tính phản ứng lại trước hai hợp chất nghi rằng là các pheromone(4)–những hóa chất có liên hệ tới mùi hương, đó chính là chiếc chìa khóa gợi dục ở động vật.
    Hợp chất đầu tiên là từ nước tiểu của phụ nữ, thứ hai là từ mồ hôi nam giới. Chụp não cho thấy, khi đàn ông dị tính ngửi thấy hợp chất từ nước tiểu phụ nữ, vùng hypothalamus của họ sáng lên. Điều này không xảy ra với đàn ông đồng tính. Thay vào đó, vùng hypothalamus của họ sáng lên khi họ ngửi thấy hợp chất từ mồ hôi đàn ông, theo cùng một kiểu phản ứng của phụ nữ với hợp chất này.
    Nghiên cứu này lại một lần nữa liên hệ hypothalamus với thiên hướng tính dục, tiếp bước cuộc nghiên cứu ở cừu. Khoảng 8% cừu đực nuôi ở trang trại đặc biệt chỉ thích “quan hệ” với các con cừu đực khác. Các nhà nghiên cứu tìm thấy một lùm các tế bào thần kinh, tương tự như LaVay đã nhận dạng ở não người, ở các con cừu “gay” cũng nhỏ hơn ở các con cừu “straight”. (Lại lần nữa, người ta có thể hiểu rằng, những khác biệt này chỉ cho thấy tác động của vấn đề hơn là căn nguyên của nó).

    Tháng Sáu, các nhà khoa học ở Vienna báo cáo họ đã biệt lập được nhóm gen chỉ đạo thiên hướng tính dục ở ruồi giấm. Một khi “ấn” vào chiếc “công tắc” này, những nàng ruồi đổi gen sẽ cự tuyệt lời “chào mời” từ các chàng, thay vào đó, nàng “tấn công” các chị em khác, với những lời tỉnh tò và điệu vũ ve vãn hệt như các chàng vẫn làm.

    Và giờ là một nghiên cứu về di truyền học đã kéo dài được 5 năm với quy mô lớn, đang thực hiện ở Bắc Mĩ. Cuộc nghiên cứu đã nhận được 2.5 triệu đô la từ Viện Sức khỏe Quốc gia (National Institutes of Health) -một chuyện hiếm có. Các nhà tài trợ thuộc Chính phủ có khuynh hướng “lánh mặt” các cuộc nghiên cứu về thiên hướng tính dục, họ biết rằng những trợ cấp dù nhỏ cũng sẽ vướng phải sự bất bình từ những nghị sĩ bảo thủ. Dựa trên nguyên mẫu 1000 cặp anh em đồng tính và những tiến bộ mới nhất trong di truyền, nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang đến sự khai sáng nào đó trong vũng tối về vai trò của gen đối với hiện tượng đồng tính luyến ái.

    Việc tích lũy các bằng chứng về sinh học này, cùng với những triển vọng ngày càng gần, đang phát huy tác động. Hồi tháng trước, Rev. Rob Schenck, một nhà lãnh đạo lỗi lạc theo phái Phúc Âm của Washington, D.C, đã nói trước một đám đông lớn giới trẻ thuộc phái này rằng, đồng tính không phải là một sự lựa chọn mà là một thiên hướng, một điều gì đó đã “ăn sâu” trong con người ta. Schenck nói với tôi rằng, sự chuyển biến này có được nơi ông kể từ sau cuộc chuyện trò với các nhà tâm lý và nghiên cứu di truyền. Ông phản đối việc những người theo phái Phúc Âm nên tiếp tục chống đối đồng tính, nếu không “nhiều người theo phái Phúc Âm đang phần nào sống trong tình trạng quay lưng với sự tiến bộ”. Thông điệp của ông là: “Nếu đã không tránh khỏi những chứng cớ có tính khoa học đang đến đây, chúng ta phải được sửa soạn cùng với sự tiếp đáp yêu thương. Nếu không, chúng ta sẽ không nhận được bất kì sự tín nhiệm nào”.

    Khi một sinh viên năm III, 21 tuổi được đưa vào máy chụp cộng hưởng từ (MRI), cô nắm giữ một bảng điều khiển với các nút “rất thích” và “rất không thích”. Hàng trăm các bức ảnh khiêu dâm chụp các đôi nam-nam và nữ-nữ lướt qua trước mắt cô. Độ gợi tình rồi cũng đến lúc sụt giảm đến mức buồn tẻ, và khó mà tránh được việc người ta sẽ tìm kiếm các chi tiết nhằm phân biệt bức này với các bức còn lại trong bộ ảnh. Vì thế, từ chỗ “Ôi này, trông kích cỡ của những bộ ngực đó kìa!” đến thành “Thế không được rồi, tăng thêm độ dài các móng tay cho cô ấy đi” và rồi “Sao thằng cha đó đã không mặc gì mà còn mang giày ống trên bãi biển làm chi vậy trời?”.

    Không quan tâm chiếc nút nào cô ấy đã bấm, máy chụp cho thấy mức độ hưng phấn (arousal level) của cô với từng bức ảnh, tại một điểm khởi phát của nó trong não.
    Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Northwestern, ngoại thành Chicago, đang tiến hành công việc này tiếp theo các cuộc nghiên cứu của họ về sự hưng phấn bằng cách sử dụng những công cụ đo lường sinh dục. Họ thấy rằng trong khi đàn ông dị tính bị “đánh thức”(/kích thích) bởi những đoạn phim có hai phụ nữ quan hệ tình dục, và đàn ông đồng tính bị “đánh thức” bởi những đoạn phim có hai người đàn ông quan hệ tình dục, thì hầu hết đàn ông tự nhận mình là “bi” cho thấy những khuôn mẫu “đánh thức” họ là tình dục đồng giới. Ở phụ nữ, sự khác nhau lại càng ngạc nhiên hơn. Hầu hết phụ nữ, dù cho họ có nhận mình là straight, les hay bi thì cũng bị “đánh thức” đáng kể bởi tình dục của straight, gay và les. “Tôi không ám chỉ hầu hết phụ nữ đều là bi”, Michael Bailey nói, giáo sư tâm lý học mà phòng thí nghiệm của ông chỉ đạo các cuộc nghiên cứu. “Ý tôi là, dù cho khuôn mẫu đánh thức tính dục (sexual arousal pattern) của một người phụ nữ có là gì, nó chỉ đóng vai nhỏ trong thiên hướng tính dục của cô ấy”. Đó là sự khác biệt cơ bản so với đàn ông. Ở đàn ông, cái đánh thức/kích thích anh ta sẽ định hướng anh ta. Nó đơn giản như thế. Đó là cách mà đàn ông đồng tính nhận biết mình là gay.



    Những nghiên cứu này đánh dấu sự trở lại của Bailey, 47 tuổi, cùng với những vấn đề thiết yếu của ông. Ông nói các nhà nghiên cứu cần có sự am hiểu sâu xa thiên hướng tính dục là gì trước khi họ có thể xác định nó đến từ đâu.

    Thiên hướng tính dục của nữ giới đặc biệt mù mờ, ông nói, bởi còn quá ít các cuộc nghiên cứu được thực hiện. Còn về thiên hướng tính dục của nam giới, ông biện luận rằng giờ đã có đủ bằng chứng để nghĩ nó “hoàn toàn bẩm sinh”, dù vẫn chưa đủ để xác minh nó diễn ra như thế nào.

    Nghiên cứu cặp sinh đôi của Bailey vào năm 1991 hiện vẫn còn được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu khác, như một trong những cột trụ trong những tranh luận về di truyền học quanh đề tài đồng tính. Song, một cuộc nghiên cứu toàn diện tiếp theo của ông trên các cặp sinh đôi ở Úc cho thấy một tỉ lệ thấp hơn nhiều về sự giống nhau trong thiên hướng tính dục giữa các cặp sinh đôi cùng trứng, khoảng 20%, dưới mức 50%. Bailey vẫn tin các gen góp phần quan trọng vào thiên hướng tính dục. Nhưng, ông nói, “Đó không phải là điểm mà tôi đặt cược cho những đột phá thực sự”.

    Ông linh cảm một cuộc nghiên cứu sâu hơn về sự bất tuân với giới tính thơ ấu sẽ mang lại nhiều kết quả. Bởi, vẫn chưa rõ tỉ lệ những người đồng tính luyến ái nam (homosexual) và đồng tính luyến ái nữ (lesbian) có biểu hiện CGN khi còn là những đứa trẻ, Bailey và các đồng sự hiện đang tiến hành cuộc nghiên cứu sử dụng các đoạn phim mà gia đình của những người tham gia nghiên cứu (hiện đã trưởng thành) đã quay họ từ lúc nhỏ, để tìm kiếm các dấu hiệu của tình trạng “giới tính cong” (gender-bending behavior).

    Nhà tâm lý học của ĐH Cornell, Daryl Bem đề xuất một giả định lý thú về việc CGN có thể dẫn đến đồng tính như thế nào. Theo lý thuyết này, điều mà ông gọi là “the exotic becomes erotic” (tạm dịch: kì cục thành hấp dẫn), đứa trẻ được sinh ra với các đặc điểm về khí chất, chẳng hạn như mức độ lanh lợi và tính gây hấn, những đặc điểm này dẫn nó đến các hoạt động đặc thù của nam hoặc của nữ. Nó tìm kiếm những người bạn có cùng sở thích với mình để chơi chung. Vì vậy, nếu một bé trai mà những đặc điểm của nó dẫn nó đến trò chơi lò cò và lánh xa các trò bạo lực, nó sẽ cảm thấy khác biệt, và bị tẩy chay bởi những thằng bé khác. Điều này dẫn thằng bé đến nỗi sợ hãi và giận dữ (kích động sinh lý) về bộ dạng của mình, kích động rốt cuộc được chuyển đổi từ kỳ cục thành hấp dẫn (from exotic to erotic).

    Những người chỉ trích đồng tính đã sử dụng lý thuyết của Bem, vốn nhấn mạnh yếu tố môi trường lên trên yếu tố sinh học, biện luận rằng thiên hướng tính dục không bẩm sinh và không cố định. Nhưng Bem nói lý thuyết của ông được gợi ra bởi những đặc điểm sinh học, và ông không thực sự biết được làm cách nào để thay đổi kết quả đồng tính.

    Bailey nói có hay không lý thuyết của Bem chống đỡ, cái môi trường đáng được tập trung quan tâm nhất chính là nơi mà đứa trẻ đã trải qua khi nó còn ở trong dạ con của mẹ.

    Chúng ta hãy trở lại với Thomas và Patrick. Bởi vì còn chưa rõ ràng: tại sao anh em sinh đôi với cùng phát xuất điểm về di truyền học giống hệt nhau, môi trường sống sau khi rời bụng mẹ tương tự nhau mà lại rẽ sang những hướng khác nhau như thế.


    ...(còn tiếp)...

    -----------
    (4) Pheromone là những hương thơm tự nhiên mà cơ thể toát ra. Ở giới động vật, chúng có tác dụng thu hút bạn tình.
    __________________

      Hôm nay: Mon Dec 05 2016, 17:30